Chăn nuôi tháng 2/2019 - Giá heo hơi đồng loạt có điều chỉnh giảm trong nửa cuối tháng 2 sau khi có công bố chính thức về việc dịch tả heo châu Phi được phát hiện tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 2/2019

DỰ BÁO CỦA USDA

USDA dự báo tháng 10 năm 2018

- Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ tăng lên hơn 1% trong năm 2019 lên 114.6 triệu tấn.

- Báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2019 sẽ tăng nhẹ, khoảng 1%, ước đạt 63.6 triệu tấn, nhờ đóng góp của Brazil, Hoa Kỳ và Argentina.

- Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA, sản lượng thịt gà thế giới năm 2019 được dự báo sẽ tăng 2% so với năm trước, lên mức kỷ lục 97.8 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với hơn 19.7 triệu tấn.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Thịt heo

  • Tại thị trường nội địa, giá heo hơi đồng loạt có điều chỉnh giảm trong nửa cuối tháng 2 sau khi có công bố chính thức về việc dịch tả heo châu Phi được phát hiện tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam
  • Theo số liệu thống kê hải quan, trị giá nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ tháng 1/2019 đạt 2.77 triệu USD, giảm khá so với tháng trước, với mức chênh lệch khoảng 33.5%, tương đương thấp hơn gần 1.4 triệu USD; tuy nhiên, nếu so sánh với cùng kỳ năm ngoái thì mức chênh lệch là khá cao, cao gấp hơn 4.4 lần, tương đương 2.15 triệu USD.

Thịt bò

  • Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 1/2019 đạt 34.12 triệu USD, giảm mạnh so với tháng trước, với mức giảm khoảng 22.3% tương đương với hơn 9.8 triệu USD; trong khi đó, nếu so sánh với cùng kỳ năm trước thì mức tăng lại khá mạnh, gần 60%, tương đương gần 12.8 triệu USD.

Thịt gà

-    Sức mua của thị trường yếu những tuần sau Tết kéo giá gà trắng tại miền Bắc giảm mạnh trong tháng 2 vừa qua.

-  Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 1/2019 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt gần 19.12 triệu USD, giảm nhẹ so với tháng trước, mức giảm chưa đến 0.5%, tương đương gần 81 nghìn USD; nhưng nếu so sánh với cùng kỳ năm 2017 thì mức chênh lệch lại cao hơn, với mức tăng đạt 17.3%, tương đương hơn 2.82 triệu USD.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

-    Dịch tả heo châu Phi tiếp tục có diễn biến phức tạp tại Trung Quốc, đặc biệt bùng phát tại tỉnh chăn nuôi chính khu vực miền Đông nước này- tỉnh Sơn Đông.

SỰ KIỆN TRONG  NƯỚC

Ngày 19/02, Bộ NN & PTNT chính thức công bố dịch tả heo châu Phi xuất hiện tại miền Bắc Việt Nam, cụ thể là 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình. Ngay sau đó, tính đến hết tháng 2, tổng có 6 tỉnh miền Bắc công bố có dịch bệnh này, bao gồm cả Thanh Hóa, Hải Phòng, Hà Nam và Hà Nội. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, tính đến ngày 28/2, dịch bệnh đã xảy ra tại 6 tỉnh, thành phố, tổng số heo bị mắc bệnh và tiêu hủy là 2349 con với tổng trọng lượng trên 172 tấn.

A.DỰ BÁO CỦA USDA

  1. Thịt heo

Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ tăng lên hơn 1% trong năm 2019 lên 114.6 triệu tấn. Trung Quốc vẫn là quốc gia có sản lượng thịt heo ước tính cao nhất thế giới năm 2018 với gần 54.2 triệu tấn, chiếm 47.94%, tuy nhiên, những phát hiện gần đây về dịch bệnh Sốt heo châu Phi (ASF) tại quốc gia này đã có ảnh hưởng đến giá cả và quy mô đàn heo. Sản lượng của EU ước tính trong năm 2018 tăng nhẹ so với 2017, đạt 24.1 triệu tấn (chiếm 21.34%) nhưng  dự báo sang năm 2019 sẽ giảm nhẹ do giá lợn hơi giảm và chi phí thức ăn cao hơn. Mỹ tiếp tục giữ vị trí thứ 3 với hơn 11.99 triệu tấn, chiếm 10.61%.

Xuất khẩu toàn cầu được dự báo sẽ cao hơn gần 3% trong năm 2019. Liên minh Châu Âu (EU) sẽ vẫn là khu vực xuất khẩu hàng đầu thế giới, với lượng ước đạt 3.05 triệu tấn trong năm 2018.

Bảng 1. Sản xuất và thương mại thịt heo toàn cầu năm 2015 -2019 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2015

110,422

109,941

6,719

7,237

2016

110,139

109,818

7,988

8,357

2017

110,038

110,584

7,890

8,297

Ước tính 2018

112,958

112,433

8,104

8,537

Dự báo 2019

114,585

114,211

8,397

8,790

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 2. Dự báo xuất khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

EU

2,860

3,050

3,150

Mỹ

2,556

2,717

2,813

Canada

1,336

1,350

1,365

Brazil

786

685

735

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 3. Dự báo nhập khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Trung Quốc

1,620

1,750

1,875

Nhật Bản

1,475

1,510

1,525

Mê-xi-cô

1,083

1,175

1,235

Hàn Quốc

645

735

685

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

  1. Thịt bò

Báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2019 sẽ tăng nhẹ, khoảng 1%, ước đạt 63.6 triệu tấn, nhờ đóng góp của Brazil, Hoa Kỳ và Argentina. Đứng đầu là Mỹ với sản lượng được dự báo trong năm 2019 sẽ đạt 12.72 triệu tấn, tiếp theo là Brazil với 10.2 triệu tấn, EU với 7.8 triệu tấn và Trung Quốc đứng thứ tư với lượng đạt 7.4 triệu tấn.

Theo USDA, xuất khẩu toàn cầu năm 2019 được dự báo ở mức 10.6 triệu tấn. Trong đó, Brazil là nước xuất khẩu thịt bò/bê lớn nhất thế giới, với lượng xuất khẩu ước đạt2.2 triệu tấn, sau đó đến Ấn Độ với 1.62 triệu tấn và đứng thứ ba là Úc với 1.51 triệu tấn. Với nhập khẩu, USDA dự báo, trong số các nước nhập khẩu thịt bò lớn nhất thế giới năm 2019 thì Mỹ vẫn là thị trường chiếm vị trí số 1 với hơn 1.4 triệu tấn, sau đó là đến Trung Quốc với 1.32 triệu tấn thịt.

Bảng 4. Sản xuất và thương mại thịt bò và thịt bê toàn cầu năm 2015-2019 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2015

59,710

57.812

7,654

9,586

2016

60,478

58,756

7,704

9,428

2017

61,624

59,674

7,953

9,967

Ước tính 2018

62,878

60,724

8,380

10,558

Dự báo 2019

63,623

61,734

8,688

10,576

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 5. Dự báo xuất khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Brazil

1,856

2,100

2,200

Ấn Độ

1,849

1,665

1,625

Úc

1,485

1,630

1,510

Mỹ

1,297

1,435

1,472

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 6. Dự báo nhập khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Mỹ

1,358

1,373

1,406

Trung Quốc

974

1,200

1,320

Nhật Bản

817

835

850

Hồng Kông

543

560

600

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

  1. Thịt gà

Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA, sản lượng thịt gà thế giới năm 2019 được dự báo sẽ tăng 2% so với năm trước, lên mức kỷ lục 97.8 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với hơn 19.7 triệu tấn. Tiếp đến là Brazil, EU và Trung Quốc với sản lượng được dự báo trong năm 2019 lần lượt sẽ là 13.8 triệu tấn, 12.47 triệu tấn và 12.0 triệu tấn.

Về xuất khẩu, xuất khẩu toàn cầu được dự báo tăng mạnh hơn 4% trong năm 2019 lên mức kỷ lục 11.6 triệu tấn. Mặc dù không phải là quốc gia sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới nhưng Brazil lại là quốc gia xuất khẩu thịt khẩu lớn nhất thế giới năm 2019 do lượng tiêu thụ nội địa của nước này thấp hơn nhiều so với khả năng sản xuất. Lượng xuất khẩu năm 2019 của Brazil được dự báo đạt gần 3.8 triệu tấn thịt.

Trong năm 2019, Nhật Bản tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt gà lớn nhất thế giới với hơn 1.18 triệu tấn. Tiếp theo là đến Mexico và Eu, với lượng nhập lần lượt đạt 850 nghìn tấn và 680 nghìn tấn thịt.

Bảng 7. Sản xuất và thương mại thịt gà toàn cầu năm 2015 -2019 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2015

91,337

89,587

8,641

10,308

2016

90,276

90,740

9,173

10,725

2017

93,779

92,034

9,351

11,039

Ước tính 2018

95,594

93,787

9,363

11,153

Dự báo 2019

97,802

95,974

9,775

11,619

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 8. Dự báo xuất khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Brazil

3,847

3,685

3,775

Mỹ

3,140

3,158

3,248

EU

1,335

1,425

1,500

Thái Lan

757

850

900

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 9. Dự báo nhập khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Nhật Bản

1,056

1,140

1,175

Mê-xi-cô

804

845

860

EU

693

650

680

Ả Rập Xê Út

790

575

675

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

B. THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

1. THỊT LỢN/ HEO

Tại thị trường nội địa, giá heo hơi đồng loạt có điều chỉnh giảm trong nửa cuối tháng 2 sau khi có công bố chính thức về việc dịch tả heo châu Phi được phát hiện tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam.

Vào ngày giữa tháng 2, trong cuộc họp báo được tiến hành vào ngày 15/02, Hội đồng nông nghiệp Đài Loan (COA) cho biết đã phát hiện virus tả châu Phi trong bánh mì sandwich từ một du khách bay từ TPHCM (Việt Nam) đến sân bay Đài Chung hôm 5/2. Virus được tìm thấy trong sản phẩm thịt lợn mang đi từ Việt Nam có cùng chủng với virus tả châu Phi được phát hiện tại Trung Quốc. Ngay sau thông tin trên được công bố, kể từ 6h chiều ngày 15/2, toàn bộ du khách Việt Nam tới Đài Loan sẽ bị kiểm tra hành lý xách tay nhằm ngăn chặn dịch tả châu Phi lây lan. Sau khi thông tin này được lan truyền, ngay lập tức nhiều công ty chăn nuôi tại Việt Nam có xu hướng giảm giá bán do lo ngại dịch tả châu Phi có thể đã xuất hiện tại Việt Nam khiến cho việc vận chuyển heo đi tiêu thụ khó khăn hơn. Cũng ngay ngày 18/2, Bộ NN Philippine cũng chính thức ban hành lệnh cấm nhập khẩu đối với thịt heo và các sản phẩm thịt heo từ Việt Nam trong thời gian chờ cơ quan thú y Việt Nam làm rõ về vấn đề này. Tuy nhiên, Việt Nam không xuất thịt lợn đông lạnh đi Philippine mà chỉ xuất khẩu một ít xúc xích đã qua chế biến. Chỉ 4 ngày sau họp báo của Đài Loan, ngày 19/2, Bộ NN&PTNT Việt Nam chính thức công bố phát hiện dịch tả heo châu Phi tại 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình tại 8 hộ chăn nuôi. Ở tuần sau đó, Bộ NN & PTNT tiếp tục công bố thêm các tỉnh bùng phát dịch bệnh này, nâng tổng số tỉnh có dịch lên con số 6, bao gồm cả Thanh Hóa, Hải Phòng, Hà Nam và Hà Nội. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, tính đến ngày 28/2, dịch bệnh đã xảy ra tại 6 tỉnh, thành phố, tổng số heo bị mắc bệnh và tiêu hủy là 2349 con với tổng trọng lượng trên 172 tấn. Ảnh hưởng của dịch bệnh khiến các công ty chăn nuôi lẫn hộ chăn nuôi miền Bắc đẩy bán mạnh ra thị trường, kéo giá heo liên tiếp có điều chỉnh giảm trong nửa cuối tháng 2 vừa qua. Với heo công ty, tính đến cuối tháng, giá heo công ty còn quanh mức 44.500-45.000 đồng/kg, giảm 3.000-3.500 đồng/kg so với hồi cuối tháng trước, nhưng vẫn cao hơn 11.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2018. Thậm chí, ở thời điểm cuối tháng, có công ty còn giảm xuống còn quanh mức 42.500-43.000 đồng/kg. Với heo dân, nếu như ở tuần sau Tết nguyên đán, giá heo còn giao dịch được từ 47.000-49.000 đồng/kg, thì đến tuần cuối tháng, dân bán ra mạnh ở nhiều mức giá khác nhau, biểu từ 60-100 kg với mức giá dao động từ 36.000-42.000 đồng/kg. Tại miền Trung, giá heo hơi cũng liên tiếp được kéo giảm do dân cũng bán ra mạnh cộng thêm lực hút heo rẻ từ miền Bắc đưa vào, giá heo miền Trung còn quanh mức 48.500-49.500 đồng/kg, thấp hơn từ 500-2.000 đồng/kg so với cuối tháng trước, nhưng vẫn cao hơn 16.500 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Tại miền Nam và miền Tây, nếu như ở tuần đầu tháng, giá heo đồng loạt nhích tăng thêm từ 2.000-2.500 đồng/kg, nâng giá heo bán ra lên 53.500-54.000 đồng/kg với heo công ty và 52.000-55.000 đồng/kg với heo dân. Ở thời điểm này, chênh lệch giá heo 2 miền khoảng 7.000 đồng/kg thì heo miền Bắc được đưa đóng mạnh vào miền Nam tiêu thụ. Theo ước tính của thương nhân, lượng heo gom từ Bắc vào Nam mỗi ngày có thể được 15-20 xe. Tuy nhiên, sang đến nửa cuối tháng, cả heo dân lẫn heo công ty khu vực này đều đồng loạt có điều chỉnh giảm. Với heo dân, các trại đẩy mạnh ra bán kéo giá heo bán ra còn lần lượt dao động 49.000-51.000 đồng/kg tại miền Nam và 47.000-50.000 đồng/kg tại khu vực miền Tây. Với mức giá này, giá heo dân miền Nam thấp hơn 2.000-3.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng nhưng vẫn cao hơn 21.000-22.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước; tại miền Tây, giá heo dân thấp hơn 5.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng nhưng vẫn cao hơn 20.000-22.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Để tránh tồn heo trong bối cảnh dân đang đổ heo ra bán, các công ty chăn nuôi cũng điều chỉnh giảm giá heo bán ra. Theo đó, giá heo công ty miền Nam còn 51.500 đồng/kg, giảm 2.000-2.500 đồng/kg so với hồi đầu tháng, nhưng cao hơn 21.000-23.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2018; tương tự giá heo công ty tại miền Tây cũng giảm còn 53.500 đồng/kg, giảm 500 đồng/kg so với đầu tháng, nhưng cao hơn 1.500 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn 23.500-24.500 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái. Do lo ngại dịch tả heo châu Phi lây lan và gây chết heo số lượng lớn nên người chăn nuôi miền Tây gần như không còn vào lại heo con dù bán ra heo thịt.

Hình 1.Diễn biến giá lợn hơi tại Đồng Nai và Thái Bình từ năm 2016-2/2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

-Theo số liệu thống kê hải quan, trị giá nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ tháng 1/2019 đạt 2.77 triệu USD, giảm khá so với tháng trước, với mức chênh lệch khoảng 33.5%, tương đương thấp hơn gần 1.4 triệu USD; tuy nhiên, nếu so sánh với cùng kỳ năm ngoái thì mức chênh lệch là khá cao, cao gấp hơn 4.4 lần, tương đương 2.15 triệu USD. Brazil tiếp tục là quốc gia xuất khẩu thịt heo đã qua giết mổ nhiều nhất vào Việt Nam trong tháng 1/2019, với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 1.3 triệu USD, chiếm 46.7% thị phần. Đối với xuất khẩu, giá trị xuất khẩu thịt heo đã qua giết mổ của Việt Nam sang các thị trường khác trong tháng 1 đạt 5 triệu USD, tăng rất nhẹ so với tháng trước, tương đương khoảng 5.5 nghìn USD; so với cùng kỳ năm trước, mức xuất khẩu cũng có biến động tăng nhưng mức tăng khoảng 17.8%, tương đương hơn 754 nghìn USD. Hong Kong tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ lớn nhất của Việt Nam trong tháng 1 với kim ngạch nhập khẩu đạt 4.68 triệu USD, chiếm 93.6% thị phần.

Bảng 10. Kim ngạch xuất nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016 - 2019 (triệu USD)

Năm

Tháng

Nhập khẩu (triệu USD)

Xuất khẩu (triệu USD)

2016

1

1.7

5.8

2

1.0

4.4

3

1.5

6.8

4

2.0

5.7

5

1.6

6.8

6

1.3

8.2

7

1.9

7.6

8

1.4

9.5

9

1.2

9.0

10

1.5

8.9

11

1.5

9.6

12

2.3

9.0

2017

1

1.7

7.2

2

2.0

7.0

3

1.4

9.5

4

0.97

5.35

5

1.55

6.57

6

1.29

5.48

7

1.303

5.94

8

0.48

5.87

9

0.32

4.40

10

0.65

4.33

11

0.51

3.65

12

0.91

4.66

2018

1

0.62

4.25

 

2

0.26

2.76

 

3

1.48

4.13

 

4

0.80

2.31

 

5

0.84

3.49

 

6

1.03

3.57

 

7

2.02

3.09

 

8

2.10

4.67

 

9

4.50

3.06

 

10

4.75

4.68

 

11

6.13    

3.89

 

12

4.17

5.00

2019

1

2.77

5.00

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 2. Kim ngạch nhập khẩu thịt lợn đã qua giết mổ năm 2017 - 2019 (triệu USD)

            Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. THỊT BÒ

- Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 1/2019 đạt 34.12 triệu USD, giảm mạnh so với tháng trước, với mức giảm khoảng 22.3% tương đương với hơn 9.8 triệu USD; trong khi đó, nếu so sánh với cùng kỳ năm trước thì mức tăng lại khá mạnh, gần 60%, tương đương gần 12.8 triệu USD. Trong tháng 1, Úc tiếp tục là quốc gia giữ tỷ trọng cao nhất trong các quốc gia cung cấp trâu/bò sống cho Việt Nam, với kim ngạch nhập khẩu từ nước này đạt 24.94 triệu USD, chiếm 73.1% thị phần.

Với thịt trâu/bò đã qua giết mổ, giá trị nhập khẩu trong tháng 1 cũng tăng khá so với tháng trước, với mức nhập khẩu tăng lên mức 30.42 triệu USD, tăng 36.4% so với tháng trước, tương đương 8.12 triệu USD; tương tự, mức nhập khẩu tháng 1/2019 cũng tăng so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng khoảng 40.1%, tương đương gần 8.71 triệu USD. Không giống như tháng trước, tháng 1 này Ấn Độ vươn lên vị trí đứng đầu trong các quốc gia xuất khẩu thịt với thịt trâu/bò đã qua giết mổ vào Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu đạt 12.46 triệu USD, chiếm 41% thị phần. Theo sau đó là Mỹ, với kim ngạch đạt 9.45 triệu USD, chiếm 31% và Úc với kim ngạch đạt 7.1 triệu USD, chiếm 23.3%.

Bảng 11. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2016 – 2019 (triệu USD)

Tháng

2016 (triệu USD)

2017 (triệu USD)

2018 (triệu USD)

2019 (triệu USD)

TT %

1

53.9

29.7

21.35

34.12

+59.86

2

31.7

21.9

18.92

 

 

3

25.1

6.5 

28.06

 

 

4

42.0

22.6 

33.58

 

 

5

37.6

45.09 

32.70

 

 

6

16.3

54.29 

24.47

 

 

7

26.8

26.68 

26.84

 

 

8

22.9

13.18 

33.67

 

 

9

29.9

18.26 

17.08

 

 

10

31.9

27.84 

41.70

 

 

11

16.1

22.00 

33.34

 

 

12

15.9

33.74 

43.93

 

 

Tổng

350.1

321.82

355.62

34.12

 

Hình 3. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2017 – 2019 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. THỊT GÀ
    1. Gà trắng

Sức mua của thị trường yếu những tuần sau Tết kéo giá gà trắng tại miền Bắc giảm mạnh trong tháng 2 vừa qua.

Đầu tháng 2 cũng là thời điểm nghỉ Tết nguyên đán. Tại thị trường miền Bắc, sức mua của thị trường yếu sau tuần nghỉ Tết khiến giá gà trắng 2 tuần giữa tháng liên tiếp có điều chỉnh giảm, kéo giá gà bán ra còn quanh mức 23.500-24.000 đồng/kg-mức giá này duy trì cho đến hết tháng, thấp hơn 11.000 đồng/kg so với so với cùng kỳ tháng trước cũng như cùng kỳ năm 2018. Trong khi đó, tại thị trường miền Nam, giá gà trắng trong tháng 2 vừa qua không có biến động mạnh như miền Bắc, dù có nhiều lần điều chỉnh tăng giảm nhưng giá giao dịch chỉ dao động nhẹ. Tính đền ngày cuối tháng, giá gà miền Nam còn giao dịch ở mức 24.000 đồng/kg, giảm 2.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng cũng như cùng kỳ tháng trước và thấp hơn 7.000-8.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái. Giá gà giống (1 ngày tuổi) ở mức 11.000 đồng/con.

Hình 4. Diễn biến giá gà trắng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016-2/2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

3.2. Gà tam hoàng

Tại thị trường miền Bắc, nếu như trong 2 tuần sau nghỉ Tết, cung-cầu tạm giữ cân bằng giữ giá gà gần như không có biến động, ổn định ở mức 37.000 đồng/kg, nhưng đến tuần cuối tháng, giá bán ra lại có điều chỉnh giảm nhẹ với mức giảm là 1.000 đồng/kg, giá giao dịch còn 36.000 đồng/kg, giảm 1.000 do với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn 1.000-13.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2018. Trong khi đó, tại thị trường miền Nam, nếu như ở ngay tuần sau Tết, giá gà màu bật tăng 3.000 đồng/kg, đẩy giá gà lên 40.000 đồng/kg, thì sang đến 2 tuần sau đó, thị trường giao dịch yếu kéo giá gà giảm tới 5.000 đồng/kg, còn 35.000 đồng/kg. Với mức giá này, giá gà bán ra thấp hơn 2.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước nhưng vẫn cao hơn 2.000-3.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Tương tự như gà thịt, giá gà giống cũng có diễn biến tương tự, giảm từ 7.400 đồng/con về 7.000 đồng/con.

Hình 5. Diễn biến giá gà tam hoàng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016 – tháng 2/2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 1/2019 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt gần 19.12 triệu USD, giảm nhẹ so với tháng trước, mức giảm chưa đến 0.5%, tương đương gần 81 nghìn USD; nhưng nếu so sánh với cùng kỳ năm 2017 thì mức chênh lệch lại cao hơn, với mức tăng đạt 17.3%, tương đương hơn 2.82 triệu USD. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu thịt gà đã qua giết mổ lớn nhất vào Việt Nam trong tháng 1 này với tổng kim ngạch đạt 6.06 triệu USD, chiếm 31.7% tổng kim ngạch.

Bảng 12. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016-2019 (triệu USD)

Tháng

2016 triệu USD

2017 triệu USD

2018 triệu USD

2019 triệu USD

TT %

1

7.6

6.1

16.3

19.12

+17.3

2

5.3

7.5 

8.82

 

 

3

10.0

8.1 

15.35

 

 

4

9.0

7.6 

11.31

 

 

5

10.7

11.74 

17.21

 

 

6

10.1 

9.31

15.36

 

 

7

13.2

9.44 

14.67

 

 

8

10.7

8.93 

14.76

 

 

9

6.8

7.64 

14.33

 

 

10

6.7

9.12 

19.14

 

 

11

8.5

11.76 

19.66

 

 

12

10.9

16.21 

19.20

 

 

Tổng

99.4

113.38

186.10

19.12

 

Hình 6. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2017 – 2019 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ                                                              

Dịch tả heo châu Phi tiếp tục có diễn biến phức tạp tại Trung Quốc, đặc biệt bùng phát tại tỉnh chăn nuôi chính khu vực miền Đông nước này- tỉnh Sơn Đông.

Sau hơn nửa tháng không phát sinh thêm ổ dịch mới thì đến ngày 8/2, dịch tả châu Phi tiếp tục được công bố tại Hồ Nam, Trung Quốc và tiếp sau đó là các tỉnh ở cả khu vực miền Bắc và miền Nam đều công bố có dịch. Những ổ dịch được công bố trong tháng 2/2019:

STT

Ngày

Địa phương có dịch

Thiệt hại

1

08-02-19

Hồ Nam

Trong trang trại 4600 con, làm 171 con chết và 270 con nhiễm bệnh

2

19-02-19

Thành phố Bắc Hải, Quảng Tây

Trong 2 trang trại có tổng 23.555 con heo, làm chết 924 con và  1629 con khác bị nhiễm bệnh

3

20-02-19

Sơn Đông

Trong 1 trang trại có 4504 con heo, làm chết 3 con và 17 con bị nhiễm bệnh

4

21-02-19

Vân Nam

Trong 1 trang trại có 300 con heo, đã làm chết 2 con heo

5

24-02-19

Hà Bắc

Trong trang trại có 5600 con heo

 

 

Nội Mông

Trên đàn heo rừng có tổng 222 con, làm 210con bị chết.

6

27-02-19

Thành phố Ngọc Lâm, Thiểm Tây

Trong 1 trang trại có 11.334 con heo, trong đó 62 con heo đã bị chết.

 
 

 

Trong số các tỉnh bùng phát thêm dịch tả heo châu Phi, có tỉnh Sơn Đông-lần đầu tiên phát hiện có dịch, là địa phương chăn nuôi chính của khu vực miền Đông Trung Quốc khi chiếm khoảng 7% tổng số heo xuất chuồng của Trung Quốc năm 2017. Ngoài ra, liên quan đến công bố dịch tả heo châu Phi tại tỉnh Hà Bắc, theo tin từ Đài Loan, trước khi tỉnh này công bố dịch, 1 nông dân tại tỉnh Hà Bắc cáo buộc chính quyền địa phương cố ý che đậy dịch tả châu Phi mới bùng phát tại đây khi không tiến hành kiểm tra xem 15.000 con theo trong trang trại có phải chết vì virus tả châu Phi hay không mà chỉ cố gắng tiêu huỷ 6.000 con còn lại trong trang trại. Sau đó, theo công bố của Bộ NN Trung Quốc, ổ dịch tại Hà Bắc xảy ra trên 1 trang trại có 5.600 con, thấp hơn nhiều so với thông báo của trang trại trên (khoảng 21.000 con). Sự khác biệt giữa số liệu của địa phương công bố với số liệu từ các hộ chăn nuôi cho thấy sự thiếu chính xác trong thống kê thiệt hại về tổng đàn heo của Trung Quốc. Bên cạnh đó, theo tin từ trang Caixingglobal, trang trại bị nổ dịch tả châu Phi tại tỉnh Hà Bắc thuộc Tập đoàn nông nghiệp và chăn nuôi Dawu. Đại diện của tập đoàn này cho biết, tại Hà Bắc không chỉ có trang trại của Dawu mà nhiều trang trại xung quanh đó đều đã có heo bị chết nhưng chính quyền địa phương chưa có bất cứ biện pháp nào để can thiệp và mới chỉ có 1 trang trại được công bố có dịch bệnh. Theo Bộ NN Trung Quốc, tổng lượng heo bị thiệt hại từ khi xuất hiện dịch tả châu Phi đến nay chiếm khoảng 1% tổng đàn của Trung Quốc với hơn 1 triệu con nhưng theo đánh giá của một số tổ chức độc lập thì mức độ thiệt hại với đàn heo Trung Quốc từ 15-25%. Tin từ một số tờ báo và đài phát thanh Trung Quốc cho biết, do việc kiểm soát heo đi tiêu huỷ không chặt chẽ nên xảy ra tình trạng người chăn nuôi vứt heo bệnh ra sông, suối hoặc chôn dưới đất nhưng không áp dụng khử trùng nghiêm ngặt.

Hôm 11/02, cơ quan kiểm dịch của Đài Loan cho biết đã phát hiện virus tả châu Phi trên xúc xích được sản xuất tại tỉnh Sơn Đông.  Ngoài ra, tại Đài Loan, sau khi Việt Nam công bố có dịch tả châu Phi thì từ chiều ngày 19/02, nước này tiến hành tăng cường kiểm tra hành lý xách tay của các du khách đến từ Thái Lan, Campuchia và Myanmar- những nước có vị trí địa lý gần Trung Quốc và Việt Nam.

Trong một diễn biến khác, hôm 17/2, South China Morning Post dẫn nguồn tin từ China Times cho biết, 3 mẫu bánh bao thịt heo đông lạnh do công ty Sanquan food có trụ sở tại tỉnh Hà Nam đã bị rút khỏi trang giao dịch trực tuyến sau khi cơ quan quản lý an toàn thực phẩm của tỉnh Hồ Nam phát hiện có nhiễm virus ASF trong các sản phẩm này. Tuy nhiên, phía Sanquan food đang phủ nhận các thông tin trên và cho biết họ sẽ điều tra thêm về vụ việc này. Ngoài ra, tại thị trường Trung Quốc, các sản phẩm từ 11 thương hiệu thực phẩm đông lạnh bao gồm Tập đoàn Kedi và Shandong Qi Hui Food, cũng được báo cáo có chứa virus sốt lợn châu Phi trong một thử nghiệm ở tỉnh Cam Túc, tờ Tin tức Bắc Kinh đưa tin hôm 15/2. Những bê bối liên quan đến virus tả châu Phi có trong bánh bao của hãng Sanquan Food và một số nhãn hiệu thực phẩm chế biến khác tại Trung Quốc khiến cho các công ty phải thu hồi tất cả các sản phẩm bị nghi nhiễm virus. Cơ quan quản lý thị trường và Bộ NN Trung Quốc yêu cầu chính quyền các địa phương tăng cường các biện pháp quản lý rủi ro và phạt nặng các công ty vi phạm.

Hôm 26/2, tại Bắc Kinh, Phó thủ tướng Trung Quốc Hu Chunhua đã chủ trì một cuộc họp về việc phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả hơn dịch tả heo châu Phi đang diễn biến phức tạp tại quốc gia này. Phó thủ tướng Trung Quốc kêu gọi cần có chế tài giám sát tốt hơn với các trang trại chăn nuôi cũng như quá trình vận chuyển, chế biến và tiêu thụ để đảm bảo rằng những nỗ lực kiểm soát dịch bệnh được thực hiện theo đúng quy trình. Theo Reuters đưa tin hồi gần cuối tháng, nhằm tăng cường hơn nữa các biện pháp phòng chống dịch tả heo châu Phi, thiết lập hệ thống phòng chống dịch bệnh động vật hiệu quả lâu dài, bảo vệ sự phát triển của ngành chăn nuôi heo và đảm bảo nguồn cung thịt heo trong nước trước bối cảnh dịch bệnh tiếp tục có những diễn biến phức tạp, Bộ NN Trung Quốc có kế hoạch sẽ chia ngành chăn nuôi heo thành 5 khu vực địa lý quan trọng. Trong bản kế hoạch, Bộ khuyến khích các giao dịch heo sống cũng như các sản phẩm từ thịt heo trong cùng khu vực để làm giảm tác động đến giá cả và thị trường chung. Bộ đề xuất thí điểm đầu tiên ở khu vực miền Nam nước này, bao gồm Phúc Kiến, Giang Tây, Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam. Kế hoạch của Bộ đã được đã được gửi cho chính quyền các tỉnh và thành phố từ tuần trước đó, tuy nhiên đến nay thông tin chính thức về việc phê duyệt kế hoạch này vẫn chưa được tiết lộ. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia nước ngoài, biện pháp này có thể ngăn chặn được dịch bệnh lây chéo giữa các khu vực nhưng nó sẽ không thực sự được xóa bỏ; và Trung Quốc sẽ mất nhiều năm để loại trừ hoàn toàn được dịch bệnh này.

Không chỉ Trung Quốc mà ở tuần đầu tháng 2, Nhật Bản cũng có công bố đã bị dịch tả heo khá nghiêm trọng khi dịch xuất hiện ở 5 tỉnh, bao gồm Osaka làm hơn 10.000 con heo bị tiêu huỷ. Tuy nhiên, dịch tả heo ở Nhật khác chủng với tả châu Phi đang diễn biến phức tạp ở Trung Quốc. Liên quan tới dịch tả đang bùng phát tại Nhật Bản, hôm 10/2, cơ quan phụ trách chăn nuôi của Philippine (BAI) đã ban hành lệnh cấm ngay lập tức đối với thịt heo và các sản phẩm thịt heo nhập khẩu từ Nhật Bản do lo ngại dịch tả châu Phi đã xuất hiện tại quốc gia này. Sau đó, dịch tả heo cũng có xu hướng lan rộng tại Nhật Bản khi 1 ổ dịch mới được phát hiện tại tỉnh Aichi – miền Trung nước này hôm 14/02. Trước đó vào thứ 4 (13/02) 1 ổ dịch tả khác cũng được phát hiện tại Aichi làm tiêu huỷ 1.200 con, khiến giới chức Nhật Bản ban hành lệnh cấm vận chuyển và tiêu thụ heo trong vòng bán kính 10km từ ổ dịch, được cho là có khả năng ảnh hưởng tới hơn 100.000 con.

Theo ý kiến từ các chuyên gia đến từ Bộ NN Mỹ và Liên minh châu Âu, thế giới cần từ 10-20 năm để tìm ra loại vắc xin có thể phòng bệnh tả lợn châu Phi.

Với giao dịch heo hơi, nếu như trong tuần tháng 2 sau Tết giá heo hơi có điều chỉnh nhích nhẹ thì sang 2 tuần cuối tháng, giá heo Trung Quốc quay đầu giảm trở lại. Tính đến cuối tháng, giá bình quân cả nước còn 12.11 tệ/kg, tương đương 42.000 đồng/kg.

Hình 7. Đồ thị giá heo hơi tại Quảng Đông, Quảng Tây từ tháng 01 năm 2016- tháng 2 năm 2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

SỰ KIỆN QUAN TRỌNG TRONG THÁNG 

Sự kiện trong nước

Ngày 19/02, Bộ NN & PTNT chính thức công bố dịch tả heo châu Phi xuất hiện tại miền Bắc Việt Nam, cụ thể là 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình. Ngay sau đó, tính đến hết tháng 2, tổng có 6 tỉnh miền Bắc công bố có dịch bệnh này, bao gồm cả Thanh Hóa, Hải Phòng, Hà Nam và Hà Nội. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, tính đến ngày 28/2, dịch bệnh đã xảy ra tại 6 tỉnh, thành phố, tổng số heo bị mắc bệnh và tiêu hủy là 2349 con với tổng trọng lượng trên 172 tấn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tin miễn phí